MY RAILTin tức đường sắt

[HSR] Lịch sử đường sắt cao tốc (Phần 1)

Lịch sử và mốc thời gian đường sắt cao tốc

Đường sắt cao tốc về cơ bản là đường sắt hoạt động với tốc độ cao hơn đáng kể so với đường sắt thông thường. Và nó sử dụng các phương tiện được chế tạo đặc biệt là đầu máy toa xe và đường ray. Tuy nhiên định nghĩa chính xác thì vẫn còn nhiêu cách khác nhau trên toàn thế giới. Liên minh châu Âu có Chỉ thị 96/48/ECPhụ lục 1 nói rằng đường sắt cao tốc gồm ba yếu tố: cơ sở hạ tầng (có nghĩa là đường ray được xây dựng đặc biệt cho tốc độ cao), giới hạn tốc độ tối thiểu (250 km/h), và các điều kiện vận hành (đầu máy toa xe phải được thực hiện cho các điều kiện này.) Liên minh Đường sắt Quốc tế thì có định nghĩa rộng hơn nhiều và nói rằng đường sắt cao tốc là một tập hợp các tính năng độc đáo. Nếu xét theo tiêu chí về tốc độ của đường sắt cao tốc thì Liên minh châu Âu đã định nghĩa chi tiết tốc độ của đường sắt cao tốc là 245 km/h cho đường nâng cấp và 295 km/h trở lên với đường mới.Tại Nhật Bản các tuyến đường Shinkansen hoạt động với tốc độ hơn 260 km/h và được xây dựng bằng đường sắt khổ tiêu chuẩn và không có giao cắt đồng mức. Tại Trung Quốc, các tuyến đường sắt cao tốc quy ước hoạt động với tốc độ tối đa 350 km/h, và một tuyến maglev đạt tới tốc độ 431 km/h.

Kể từ những ngày đầu tiên của đường sắt, đường sắt đã cố gắng đạt được tốc độ cao hơn vì tốc độ luôn là một yếu tố quan trọng trong loại hình giao thông này. Các thí nghiệm đầu tiên trong đường sắt tốc độ cao đã được tiến hành ở Đức vào năm 1899. Đường sắt giữa Marienfelde và Zossen, dài 72km, được điện khí hóa bởi Công ty đường sắt Phổ và mười công ty điện và kỹ thuật. Sau bốn năm thử nghiệm đường sắt đã đạt được tốc độ 210,2 km/h nhưng chuyến tàu này đã không được đưa vào khai thác sử dụng. Đầu máy Diesel Fliegender Hamburger đưa vào khai thác thương mại vào năm 1933 trên tuyến đường sắt giữa Hamburg và Berlin với tốc độ tối đa 160 km/h. Khi tàu Henschel-Wegmann chạy bằng hơi nước được giới thiệu vào năm 1936 với tốc độ tối đa 160 km/h, đường sắt cao tốc bắt đầu lan rộng trên khắp nước Đức nhưng Thế chiến II đã làm gián đoạn điều đó. Cùng trong thời gian này, Hoa Kỳ đã tự chế tạo tàu cao tốc. Tàu Zephyr của họ đạt tốc độ 124 km/h (với mức vận tốc tối đa là 185 km/h vào năm 1934). Năm 1935, dịch vụ Morning Hiawatha được giới thiệu sử dụng đầu máy hơi nước có thể đạt tốc độ thương mại thông thường là 160 km/h. Còn Italia vào năm 1938 với tàu ETR 200 của họ, đường sắt cao tốc cũng có tốc độ đưa vào khai thác thương mại đạt 160 km/h nhưng cũng đã phá kỷ lục vào thời điểm đó năm 1938 với vận tốc 203 km/h. Vương quốc Anh, đã phá kỷ lục cùng năm về đầu máy hơi nước, với cái tên Mallard, đạt được 202,58 km/h.

Trong thời gian diễn ra Thế chiến II, cuộc đua công nghệ đường sắt cao tốc bị gián đoạn. Tuy nhiên sau khi cuộc chiến kết thúc nó lại tiếp tục trở lại. Những năm 1950 đã chứng kiến ​​những kỷ lục đầu tiên về tốc độ trên 300 km/h: Đường sắt quốc gia Pháp CC 7107 và nguyên mẫu BB 9001 đạt tốc độ lần lượt là 320 km/h và 331 km/h. Ngoài ra, các cải tiến kỹ thuật vẫn tiếp tục, sự dao động lắc lư của các trục bánh đã được giải quyết với bộ giảm chấn yaw.

Sau Thế chiến II, Nhật Bản phải đối mặt với tình hình dân số tại một số khu vực tăng cao và dẫn đến tình trạng giao thông trên các tuyến đường bộ và đường sắt trở nên tồi tệ. Để giải quyết vấn đề, chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu chương trình về đường sắt cao tốc. Với việc thiết lập kỷ lục thế giới tốc độ nhanh nhất của đoàn tàu khi chạy trên đường sắt khổ hẹp với tốc độ 145km/h, giúp các kỹ sư của Nhật Bản tin rằng họ có thể chế tạo các đoàn tàu an toàn và tin cậy hơn, mở đường cho các tàu cao tốc khổ tiêu chuẩn có thể đạt 250 km/h. Tuyến đường sắt cao tốc hiện đại đầu tiên giữa Tokyo và Osaka, Tōkaidō Shinkansen, bắt đầu vận hành vào tháng 10/1964, những chuyến tàu đầu tiên này chỉ có 12 toa, sau đó sử dụng 16 toa với hai tầng. Năm 1976, những chuyến tàu này đã đón hành khách thứ một tỷ.

Trong những năm 60, Nhật Bản và Đức đã đi trước trong việc nghiên cứu và đưa ra các thế hệ tàu cao tốc đầu tiên. Chúng có thể đạt tốc độ hơn 200km/h. Và Pháp bị tụt lại phía sau (Họ có Aérotrain có thể đạt vận tốc tới 345 km/h nhưng đó chỉ là bản concept). Các chuyến tàu cao tốc khai thác của nó chỉ có thể đạt 160 km/h, vì vậy Bộ trưởng Cơ sở hạ tầng Pháp – Edgar Pisani đã chỉ thị Đường sắt Quốc gia Pháp trong vòng 12 tháng phải bắt kịp Đức và Nhật Bản. Và họ đã làm được điều đó, họ đã trình làng TGV (Train à Grande Vitesse) hoạt động trên 270 km/h nhưng nó có thể đạt tới vận tốc 574,8 km/h (xác lập kỷ lục tàu khai thác thương mại chạy bánh sắt có tốc độ cao nhất, vào ngày 03/4/2007)

Đường sắt cao tốc sau đó được nhiều nước trên thế giới phát triển, như: Italia, Tây Ban Nha, Trung Quốc và Hàn Quốc. Các quốc gia có đường sắt cao tốc có thể đạt tới hơn 300 km/h và tăng tốc độ di chuyển, rút ngắn thời gian đi lại cho hàng triệu hành khách.

Tags
Show More

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button
Close